Nhân viên y tế
Sự phân bố tuýp Human Papillomavirus (HPV) ở ung thư cổ tử cung xâm lấn và sang thương tiền ung thư mức độ cao
ThS.BS Lê Quang Thanh
Bệnh viện Từ Dũ
BS. CKII. Phạm Việt Thanh, PGS. TS. Vũ Thị Nhung, Vũ Bá Quyết,
Cao Ngọc Thành, Ramakrishnan Gunasekaran, Yu Ta-Wen, Chen Jing

Đặt vấn đề

Ung thư cổ tử cung (UTCTC) là ung thư đứng thứ hai ở phụ nữ trên toàn cầu và là nguyên nhân hàng đầu dẫn đến tử vong do ung thư ở phụ nữ ở các nước đang phát triển. Ở Việt Nam, tỉ lệ mắc UTCTC theo tuổi là 11,5/100.000 phụ nữ và là ung thư phổ biến nhất ở phụ nữ từ 15 đến 44 tuổi. Chủng ngừa HPV nhắm vào những tuýp gây ung thư cùng với sàng lọc giúp giảm gánh nặng của ung thư cổ tử cung. Số liệu về sự phân bổ các tuýp HPV và sang thương cổ tử cung tiền ung thư mức độ cao sẽ rất hữu ích để đánh giá khả năng ảnh hương của chủng ngừa HPV ở Việt Nam.

Mục tiêu

Đánh giá tỉ lệ lưu hành của HPV-16, -18 và những tuýp HPV nguy cơ các khác ở phụ nữ Việt Nam trưởng thành có ung thư cổ tử cung xâm lấn (ICC), loạn sản nội biểu mô cổ tử cung (CIN) II/III hay ung thư tuyến tại chỗ cổ tử cung (AIS).

Phương pháp

Phụ nữ Việt Nam >21 tuổi, được chẩn đoán với ICC hay CIN II/III/AIS được tuyển tiến cứu. Mẫu cổ tử cung thu thập theo quy trình lâm sàng thường quy được kiểm tra để xác nhận tổng thương và xét nghiệm sự hiện diện của HPV bằng SPF-10 PCR và line probe assay (LiPA).

Kết quả

HPV DNA được phát hiện trong 97.0% (130/134) mẫu ICC và 93.7% (118/126) mẫu CIN II/III/AIS. Trong số bệnh nhân ICC, 91.5%nhiễm duy nhất một tuýp HPV; HPV-16  (52.1%), HPV-18 (36.1%) và HPV-52 (3.4%) là những tuýp thường gặp nhất. Những tuýp HPV này được quan sát thấy nhiều nhất ở những bệnh nhân ung thử tế bào vảy. Ở những bệnh nhân ung thư tuyến/tế bào very với nhiễm duy nhất một tuýp HPV, HPV-18 (80.6%) là tuýp nổi bật, tiếp theo là HPV-16 (16.1%). Trong số bệnh nhân CIN II/III/AIS, 83.9% trường hợp nhiễm duy nhât một tuýp HPV; HPV-16(47.5%), HPV-52 (25.3%), và HPV-58 (12.1%) được phát hiện thấy nhiều nhất.

Kết luận

HPV-16 và HPV-18 được phát hiện thấy nhiều nhất ở phụ nữ Việt Nam được chẩn đoán ICC. Người ta kỳ vọng rằng vắc xin phòng bệnh chống lại các tuýp HPV gây ung thư trong đó có HPV-16/18 giúp giảm gánh nặng của ung thư cổ tử cung ở Việt Nam (StudyID: 110428).

Trích Tài liệu HN Việt - Pháp lần 11, năm 2011

Khác
Mục tiêu nghiên cứu: Xác định các yếu tố liên quan với bệnh lý loãng xương (LX) ở phụ nữ tuổi mãn kinh (MK). Phương pháp: Nghiên cứu bệnh chứng 488 phụ nữ thỏa tiêu chuẩn chọn mẫu được phân ngẫu nhiên vào 2 nhóm. 244 phụ nữ LX vào nhóm bệnh và 244 không bị LX vào nhóm chứng. Các phụ nữ MK ít nhất 2 năm, có kết quả đo mật độ xương được đánh giá theo tiêu chuẩn của Tổ chức Y tế Thế giới với T-score -2,5 được chọn vào nhóm bệnh và T-score > -2,5 được chọn vào nhóm chứng.
14/04/2011
Tăng sinh nội mạc tử cung (TSNMTC) là bệnh lý thường gặp ở tuổi tiền mãn kinh, mãn kinh. Bệnh có thể diễn tiến thành ung thư NMTC nếu không điều trị.
14/04/2011
Nghiên cứu “Dự đoán độ lành-ác của khối u buồng trứng qua siêu âm” với thiết kế đoàn hệ tiến cứu, được thực hiện tại bệnh viện Từ Dũ từ năm 2002 đến 2005 với 306 bệnh nhân nhập viện mổ vì u buồng trứng.
14/04/2011
Qua 32 trường hợp thai ngoài tử cung đã được phẫu thuật bảo tồn vòi tử cung từ năm 1996 đến tháng 5 năm 2006, chúng tôi nhận thấy: 100% là phẫu thuật theo phương pháp cổ điển. Độ thông vòi trứng 75,85%, trong đó thông tốt là 48,27%. Tỷ lệ có thai lại chiếm 18,5% và tỷ lệ có thai ngoài tử cung là 6,25%. Biến chứng sót tổ chức nhau là 3,12% .
14/04/2011